Wednesday, December 23, 2009

Chiến Sĩ Vô Danh

Chiến Sĩ Vô Danh

Xin được mở chương đầu tiên bằng cách cúi đầu tưởng niệm các chiến sĩ vô danh. Khi nói đến chiến sĩ vô danh, tôi muốn nói đến chiến sĩ vô danh đúng nghĩa. Đó là những người đã chiến đấu và nằm xuống âm thầm không tên tuổi. Đó là những người lính đã nằm xuống không phân biệt Bắc Nam, không phân biệt triều đại cũng như ý thức hệ.

Chiến sĩ vô danh chính là những người đã chiến đấu từ những thời Lê Lý Trần cho đến ngày hôm nay. Chiến sĩ vô danh chính là những cô gái đã gục chết trên ngã ba Đồng Lộc dưới trận mưa bom của những pháo đài bay B52. Chiến sĩ vô danh chính là những người lính Nhảy Dù, TQLC đã nằm xuống ở Khe Sanh, Đồng Xoài, Bình Giả. Chiến sĩ vô danh chính là những người lính miền Bắc không phân biệt quân chủng, đã nằm xuống trong suốt cuộc nội chiến tương tàn 20 năm. Chiến sĩ vô danh cũng chính là những người lính miền Nam Cộng Hoà không phân biệt quân binh chủng, đã nằm xuống trong tất cả những trận chiến của 20 năm máu lửa hận thù. Tất cả các anh, các chị, đều là những anh hùng vô danh mà hương hồn bay trong gió trên tất cả các buổi lễ thượng kỳ của Việt Nam không phân biệt bất cứ một chính quyền nào.

Trước tượng đài các chiến sĩ vô danh, ai trong chúng ta chỉ cúi đầu tưởng niệm cho những binh sĩ đã nằm xuống trong những trận đại phá quân Thanh, mà không cúi đầu cho những binh sĩ của Minh Mạng, Tự Đức đã nằm xuống trong những trận chiến không tương sức với đoàn quân viễn chinh Pháp? Ai là người dám bước lên tượng đài chiến sĩ vô danh với ý tưởng rằng, cái đài chiến sĩ vô danh chỉ dành riêng cho những binh sĩ của chúa Nguyễn, hoặc chỉ dành riêng cho các chiến sĩ vô danh của vua Quang Trung?

Và cũng trên những tượng đài chiến sĩ vô danh của ngày hôm nay, không phân biệt ở trong nước hay ở Nam Cali, ai là người có thể bước lên đài tưởng niệm với ý tưởng Nam Bắc hai miền? Không! Dù sanh Nam tử Bắc, dù sanh Bắc tử Nam, tất cả những người lính chiến của hai miền, khi gục ngã trên các chiến trường, đều là những chiến sĩ vô danh.

Tôi nhớ một nhà lãnh đạo cao cấp của Hà nội, hình như thủ tướng Phan văn Khải thì phải, khi qua Nam Cali đối chất với những người chống đối, đã thốt lên câu này, “Sao quý vị thù dai thế?” Tôi đồng ý với câu nói đó. Quý vị chống đối kia quả nhiên là thù thật dai.

Nhưng chính các bậc lãnh đạo của Hà nội cũng thù dai không kém. Khi câu nói trên được thốt ra tại Nam Cali, thì ngay tại trên quê hương tôi, có hàng ngàn thương phế binh của chế độ miền Nam Cộng Hoà vẫn lê những chuỗi ngày khổ nạn trên khắp các nẻo đường phố quê hương. Có người cụt cả chân lẫn tay nằm lê lết ở những khu chợ búa bùn lấy hôi hám để xin những đồng tiền bố thí sống lây lất trong những chuỗi ngày tàn cuối đời.

Lúc nghe câu nói đó, tôi đã trộm nghĩ rằng, nếu không thù dai, tại sao chính quyền Hà nội không đưa ra một đạo luật cấp cho những thương phế binh của miền Nam Cộng Hoà đó một số tiền nhỏ nhoi hàng tháng? Chẳng có đáng là bao nhiêu, bởi vì chẳng còn bao nhiêu thương phế binh còn sống sót. Vào năm đó, nhiều lắm là còn khoảng 100 ngàn thương phế binh còn sống trên cõi đời. Nếu một người một tháng được trợ cấp 200 ngàn, thì mỗi năm được 2,4 triệu. Tổng cộng chỉ tốn ngân quỹ quốc gia là 2,4 tỷ một năm, tức là vào khoảng 200 ngàn đô la vào thời điểm đó, một con số thật vô cùng khiêm nhường so với mấy tỷ đô-la kiều hối hàng năm.

Thử tưởng tượng mà xem, bỗng nhiên chính quyền Hà Nội đưa ra một đạo luật nho nhỏ cấp cho những thương phế binh của miền Nam Cộng Hòa một số tiền nhỏ nhoi là 200 ngàn đồng một tháng thôi, thì cả thế giới này sẽ nhìn vào đó ngưỡng mộ và khâm phục. Đạo luật đầy ắp tình dân tộc nho nhỏ này sẽ đứng trên tất cả những đỉnh cao nhìn ngạo nghễ xuống tất cả những cố gắng thảm thương của những khẩu hiệu nghe rất kêu như “hoà hợp hoà giải”, “Núm ruột ngàn dặm”, v.v… Nếu đã có một đạo luật như thế ra đời, tôi nghĩ rằng tổng số tiền trợ cấp hàng năm đó thua xa những số tiền mà Hà Nội đã dành cho ngân quỹ của các chiến dịch kiều vận. Ngược lại, tổng lượng kiều hối sẽ tăng lên không kể xiết, và Hà nội sẽ được bao nhiêu là tiếng thơm, không những trong thế kỷ hiện tại, mà còn đến mãi muôn đời sau, lưu danh thiên cổ là một chính quyền có tình nhân đạo, tình dân tộc.

Nhưng 35 năm đã qua rồi. Ngày hôm nay đã quá trễ cho một đạo luật nho nhỏ đầy tình tự dân tộc như vậy. Các thương phế binh của miền Nam Cộng Hoà ngày xưa, nay hầu hết đã thiên thu vĩnh biệt cõi hồng trần. Số còn lại chẳng là bao nhiêu. Mặc dù không gục chết trên các trận mạc, các anh đã, sẽ, và luôn luôn là những anh hùng vô danh của cả dân tộc Việt Nam.

35 năm đã qua rồi. Ngày hôm nay, khi đọc chương “Chiến Sĩ Vô Danh” này, chắc hẳn sẽ còn có một số không ít người vẫn không đồng ý với tôi. Nhưng tôi có thể cả quyết rằng, 20 năm sau, hoặc 50 năm sau, trên tất cả những tượng đài chiến sĩ vô danh của quê hương tôi, sẽ không còn ai phân biệt với tất cả các anh...

Bởi vì, dẫu sanh Nam tử Bắc, dẫu sanh Bắc tử Nam, tất cả các anh, những người đã nằm xuống trên khắp các nẻo đường Việt Nam, đều là những ANH HÙNG vô danh của tổ quốc Việt Nam.

Siêu Thị và Những Cửa Tiệm Đáng Ghét

Tôi không hiểu các bạn đã có bao giờ bước chân vào một siêu thị ở Việt Nam, hoặc một tiệm sách hoặc một tiệm bán quần áo tạp nhạp trong một trung tâm thương mại (plaza) ở Việt Nam bao giờ chưa? Tôi đã! Và mỗi lần vào những nơi đó, tôi lại có những phút giây bực mình khó tả.

Nếu bạn là một phụ nữ, hoặc là một đấng mày râu đang làm cái nhiệm vụ rất cao cả là “hộ tống” người bạn trăm năm, hoặc bạn tình tri kỷ vào một trong những nơi trên, mà bạn không bực mình, không tức giận, thì thú thật, cái tự ái của bạn đã không còn nữa, và tôi xin ngả nón cúi đầu khâm phục, vì bạn đã luyện tới mức thượng thưà cái đạo vô vi của cửa thiền uyên bác.

Cái việc đầu tiên mà người phụ nữ, trước khi bước vào cửa của một trong những nơi trên là phải “vui lòng” gửi lại cái xách tay bất ly thân mà hầu như bất cứ một người phụ nữ nào sống trên một nước văn minh đều phải có. Trong cái xách tay bất ly thân đó có những gì? Một cái ví đựng tiền. Những món linh tinh dung để làm đẹp như gương soi mặt, thỏi son môi, phấn thoa. Nếu có con nhỏ, trong cái xách tay đó có thể có thêm vài cái tã lót cho em bé và một hộp giấy chùi đít có tẩm nước sát trùng. Cần thiết hơn nữa, trong cái xách tay đó, có thể có một cái băng vệ sinh để người phụ nữ có thể làm cái công việc cần phải làm khi đang mua sắm trong một siêu thị rộng thênh thang.

Cái xách tay bất ly thân của người phụ nữ, khi bước vào một trong những nơi trên, bị bắt buộc ly thân một cách tàn nhẫn đầy tính chất khinh bỉ. Khách hàng là thượng đế. Nhưng có lẽ, trong hơn 5 tỷ thượng đế của toàn thế giới này, thì gần 100 triệu thượng đế ở Việt Nam được các cửa tiệm trên đối xử với thái độ có thể nói là còn thua cách đối xử với một kẻ ăn mày ở những quốc gia khác.

Thử nghĩ lại mà coi. Khi những cửa tiệm trên bắt khách hàng của họ để lại xách tay trước khi bước vào cửa tiệm, có phải chăng, những khách hàng đó đã bị phân loại là thành phần có thể trộm cắp khi có cơ hội?
Nếu chúng ta đi với một phụ nữ trên đường phố, mà có một kẻ tiến lại, nói thẳng vào mặt chúng ta, người phụ nữ đi bên cạnh chúng ta là một tên trộm cắp khi có cơ hội, thì phản ứng của chúng ta sẽ như thế nào. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ có một phản ứng mạnh. Phản ứng mạnh đến mức nào thì tuỳ thuộc vào từng người một. Có thể đó sẽ là một quả đấm. Có thể đó sẽ chỉ là những lời ôn tồn hoà nhã. Có thể đó chỉ là một ánh mắt giận dữ. Nhưng dù thế nào đi nữa, chúng ta buộc phải có một phản ứng để đáp lại thái độ vô lễ trên.

Không cần phải nói thêm về những bất tiện của người phụ nữ khi cần phải thay tã cho con, hoặc vệ sinh cho chính mình, chỉ cái luật gửi lại xách tay rất rừng rú không nên có trong một xã hội văn minh, các cửa tiệm trên đã nói thẳng vào mặt chúng ta, tất cả các anh, các chị, đều là những tên trộm cắp khi có cơ hội.

Hãy thử nghĩ mà coi, một người nước ngoài đi du lịch qua Việt Nam, bước vào những cửa tiệm trên, thấy cái cảnh “bắt buộc phải gửi xách tay” đó, họ sẽ nghĩ gì? Có phải chăng, họ sẽ nghĩ rằng, nước Việt Nam của các anh chị trộm cắp nhiều lắm phải không? Đây chính là một trong những việc làm mất quốc sĩ. Cái sĩ diện của một con người đã là vô cùng quan trọng. Cái sĩ diện của một quốc gia còn quan trọng hơn gấp ngàn lần.

Sở dĩ tôi viết “người nước ngoài đi du lịch qua Việt Nam, bước vào những cửa tiệm trên, THẤY cái cảnh…”, mà không đề cập đến việc người nước ngoài bị buộc gửi lại xách tay, vì chính mắt tôi đã chứng kiến nhiều lần, cái luật rừng rú trên không áp dụng cho người phụ nữ ngoại quốc. Người phụ nữ ngoại quốc, khi bước vào một trong những cửa tiệm trên, không hề bị bắt buộc gửi lại cái xách tay. Có thể là chú bảo vệ không biết ngoại ngữ. Có thể chú bảo vệ mắc cở và ngần ngại không muốn nói tiếng Anh. Tôi không cần biết đến điều đó. Tôi chỉ biết rằng, khi chỉ có người phụ nữ Việt phải buộc để lại xách tay, đó là sự nhục mạ người Việt bởi người Việt ngay trước mặt những người ngoại quốc.

Thật sự ra, có cần phải làm thế không? Các cửa tiệm đều có những ống kính thu hình có thể quan sát các hành lang dọc theo các quầy hàng. Thay vì trả lương nhân công cho 2,3 người thu giữ cái xách tay, tại sao không dẹp cái quầy giữ xách tay, dùng những nhân viên trên ngồi theo dõi màn hình?

Hơn thế nữa, một người thích ăn trộm cắp, thì đâu có cần phải dung xách tay để chứa những vật họ muốn trộm cắp? Và những vật trộm cáp có thể lượng to lớn chưa chắc đã đắt tiền hơn những vật nho nhỏ có thể nhét vào túi hoặc những chỗ kín có nhiều tính cách riêng tư mà rất ít khi nào các nhân viên bảo vệ muốn đảo mắt nhìn xuống.

Thú thật, tôi chưa bao giờ đi với một phụ nữ mà để cho họ phải gửi lại xách tay. Nếu người phụ nữ đi một mình, tôi không can thiệp. Nhưng nếu đi với tôi, tôi chỉ nhỏ nhẹ nói anh bảo vệ rằng, một là anh cho chúng tôi vào với cái xách tay bất ly thân, hoặc chúng tôi sẽ không vào cửa tiệm. Và hơn 50% của những lần đó, anh bảo vệ đã phải cho chúng tôi vào với cái xách tay. Tôi nghĩ, đây là thái độ nên làm của tất cả chúng ta. Nếu tất cả chúng ta đều có phản ứng như trên, thì các cửa tiệm sẽ bắt buộc phải thay đổi cung cách làm việc của họ, cho đúng với câu: ”Khách hàng là thượng đế.”

Hãy gửi bài này đi khắp mọi nơi chúng ta có thể gửi. Hãy gửi một thông điệp đi khắp mọi nơi, chọn một ngày Chủ Nhật nào đó, tất cả chúng ta mặc quần áo bảnh bao, bước vào những cửa tiệm đó với cái xách tay. Nếu bị buộc phải gửi lại xách tay, thì nhỏ nhẹ nói với chú bảo vệ là chúng ta sẽ không vào cửa tiệm để mua sắm nếu không có cái xách tay, để rồi bước ra qua một tiệm khác. Tôi bảo đảm rằng, khi chuyện này được lập lại nhiều lần bởi cả ngàn người, các chủ tiệm sẽ lập tức thay đổi cung cách làm việc của họ.

Nếu chỉ một cái liếc mắt giận dữ cũng không có, thì các bạn mặc nhiên đã đồng ý rằng, mỗi người Việt Nam là một tên ăn cắp khi có cơ hội.

Dell và nghiệp vụ hổ trợ khách hàng

Dec 23rd, 2009

Buổi sáng đang ngủ chập chờn, điện thoại di động reo vang. Giấc ngủ là vàng. Tôi mặc kệ cho nó réo gọi. 15 phút sau, điện thoại lại réo gọi lần thứ hai. Cũng mặc kệ. 15 phút sau đó, điện thoại lại reo vang thêm một lần nữa. Quá tam ba bận, chắc là ai có chuyện gì khẩn cấp. Tôi bắt điện thoại lên, đối tác là một nhân viên kỹ thuật của công ty Dell. Anh ta gọi để cho tôi biết là cái motherboard mà công ty Dell gửi cho tôi để thay thế cái motherboard đã hư. Anh cho biết sẽ đến nhà tôi vào khoảng từ 11:00 – 14:00h trong ngày để thay thế cái motherboard.

Cái laptop Dell XPS-M1330 tôi mua đã gần một năm đúng. Tôi mua nó vào ngày 26 tháng 1 trong năm. Hôm nay là ngày 23 tháng 12. Máy được bảo hành đúng 1 năm, và chỉ còn đúng 1 tháng 3 ngày nữa là hết thời gian bảo hành. Thật may cho tôi. Nếu cái máy hư trễ khoảng độ hơn tháng nữa, hết thời gian bảo hành, thì tôi chỉ có cách bỏ tiền túi ra mua một cái motherboard mới.

Chấm dứt cuộc điện đàm với anh nhân viên kỹ thuật của Dell, tôi bấm điện thoại để kiểm tra lại hai cuộc điện thoại nhỡ mà tôi đã không bắt máy. Trong hai cuộc gọi nhỡ này, một cuộc gọi đã để lại cho tôi một voice mail. Bấm nghe thử, thì đó là cuộc gọi nhỡ từ một trung tâm hổ trợ khách hàng của công ty Dell. Họ cho biết cái motherboard đã được over-night (gửi tốc hành đến khách hàng trong một đêm) từ chiều qua. Sáng nay, cái motherboard đã đến trụ sở của Fed-Ex trong địa hạt tôi cư ngụ. Và nội nhật trong ngày, sẽ có một nhân viên kỹ thuật liên lạc với tôi để đến nhà sửa máy.

Cái laptop của tôi bị hư đúng vào thời gian tôi đang nghỉ hè ở Quy Nhơn, Việt Nam. Buổi sáng hôm đó, tôi đang rong chơi ảo trên các website, đột nhiên máy thật nóng, sau đó màn hình chớp chớp, đổi sang những sọc xanh đỏ xấu xí, rồi máy tự động tắt. Mang hết tất cả những kiến thức đã học được về IT, tôi đã cố gắng làm đủ mọi cách để phục hồi lại hệ thống máy, nhưng vẫn không được. Bộ phận quan trọng nhất, và cũng đắt tiền nhất của một máy laptop chính là cái màn hình LCD. Nếu màn hình chỉ hiển thị những sọc xanh đỏ xấu xí, thì việc phục hồi máy không phải là một chuyện dễ dàng. Quan trọng hơn cả là ổ đĩa cứng. Nó có hàng chục những phần mềm quan trọng mà tôi dung hàng ngày và có cả hàng chục ngàn mã nguồn files cũng nhưng những dữ liệu linh tinh. Cũng may, ổ đĩa cứng không bị hư hại gì. Tôi tháo ổ đĩa cứng ra, chạy đi mua một cái hộp USB để bỏ ổ đĩa vào, sau đó kết nối vào một cái laptop cũ để dung tạm.

Về tới Mỹ, tôi lập tức gọi cho trung tâm hổ trợ khách hàng của Dell để…báo cáo tình hình, bắt đầu cho một cuộc tranh thủ khá hứng thú. Vào trang www.Dell.com, tôi qua trang hổ trợ (Support) để tìm số điện thoại. Gọi cho số điện thoại đó hai lần, được tiếp chuyện bởi hai nhân viên kỹ thuật có giọng nói đặc sệt âm hưởng của Ấn Độ. Hai giọng nói vô cùng khó nghe. Hai nhân viên này, chuyện đầu tiên họ đề cập tới là muốn tôi mua thêm một năm hổ trợ khách hàng nữa với giá 167 đô. Tôi nhã nhặn từ chối. Sau hơn 15 phút nói chuyện, lần nào hai anh này cũng đều muốn tôi trả 528 đô-la để thay thế cái laptop của tôi bằng một cái máy mới. Tôi nhất định không chịu. Trong lần điện đàm thứ hai, tôi đã nổi quạu đến mức cho anh kỹ thuật biết là nếu công ty không cho người đến sửa máy cho tôi, tôi sẽ mang công ty Dell ra ba toà quan lớn nhờ phân xử. Nhưng giọng điệu hăm doạ của tôi không hề làm cho anh nhân viên Ấn Độ nao núng.

Và tôi bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc thưa kiện. Tôi thu thập những dữ liệu về cách thưa kiện. Tôi lên mạng tìm cho ra địa chỉ của văn phòng đại diện cho Dell nơi tiểu bang tôi ở. Ở hiệp chủng quốc Cờ Hoa này, chuyện thưa kiện nhỏ nhặt diễn ra hàng ngày và khá dễ dàng. Nếu tổng số tiền nguyên đơn đòi bồi thường dưới mức 5 ngàn đô la, thì nguyên đơn có thể đưa đơn kiện lên Small Claim Court (Toà Khiếu Kiện Nhỏ). Việc thưa kiện rất giản dị. Nguyên đơn chỉ việc ra quận hạt nơi mình cư ngụ, điền một lá đơn, nêu rõ sự việc, tổng số tiền xin bồi thường, địa chỉ của nguyên cáo, địa chỉ của bị cáo. Sau đó nộp đơn và đóng lệ phí là 39 đô-la. Toà sẽ dùng số tiền 39 đô đó để gửi cho bị cáo một lá thư đòi hầu toà. Đúng ngày giờ hầu toà, nguyên đơn và bị cáo đều phải có mặt ở toà để phân giải. Nếu bên nào không có mặt ở tòa ngày đó mà không có thư từ hoặc liên lạc để báo lý do chính đáng, thì bên đó thua kiện. Nếu cả hai bên đều có mặt, thì toà sẽ theo lời khai cũng như chứng-từ của hai bên để phân xử. Thường thường thì một công ty với doanh thu bạc tỷ như Dell không bao giờ muốn dây dưa với những vụ kiện nhỏ nhặt vì hai lý do: thứ nhất là tổn phí cho luật sư để hầu toà thường là cao hơn tổng số tiền đòi bồi thường, và thứ hai là dù thắng thay thua, việc kiện tụng không ít thì nhiều sẽ ảnh hưởng đến uy tín của công ty, và sẽ ảnh hưởng đến số doanh thu. Thường thường, những vụ thưa kiện về bảo hành như trường hợp của tôi, nguyên đơn có nhiều hy vọng thắng kiện hơn bị đơn.

Một điều kiện để có thể thắng trong những vụ thưa kiện đồi bồi thường cho một món hàng hoá đã mua, là nguyên đơn phải tỏ ra có thiện chí hợp tác, tức là phải liên lạc với công ty ít nhất là 3 lần trở lên để yêu cầu bảo hành. Tưởng cũng nên nói thêm ở đây là theo luật pháp hiện hành, các công ty phải lưu giữ những cuộc điện đàm ít nhất là 5 năm. Tuy rằng tôi không thể thu âm những cuộc điện đàm, như Dell có thu âm. Dell càng không thể xóa bỏ dấu tích của những cuộc điện đàm, vì hãng điện thoại đều có lưu trữ ngày giờ các cuộc gọi của khách hàng.

Tôi đã gọi liên lạc với Dell có hai lần, cho nên phải tỏ “thiện chí” tiếp tục liên lạc với họ ít nhất là một lần nữa. Thật sự mà nói, tôi cũng không muốn phải đi thưa kiện. Mục đích chính là sửa máy lại cho tốt, chứ không phải để thưa kiện lôi thôi rắc rối. Nhưng trước khi gọi cho Dell, tôi muốn đích thân tìm tòi xem cái laptop của tôi bị hư cái gì trước. Sau nhiều giờ tìm tòi, tôi biết chắc chắn rằng bộ phận hiển thị của NVidia đã bị hư. Làm một vòng google, tôi tìm thấy có nhiều người cũng bị vướng vào trường hợp như tôi. Dell đã phải thay thế cho họ bằng một motherboard mới. Chỉ có một trường hợp, có một người đã phải đưa Dell ra toà xin bồi thường 3 ngàn đô. Ngày ra toà, không có mặt của bị đơn, nên tòa đã cho nguyen đơn thắng kiện, và chuẩn y số tiền bồi thường. Sau đó, Dell đã phải liên lạc với người đó để dàn xếp ổn thoả. Đây là những dữ liệu đáng giá trong trường hợp Dell không chịu sửa máy hoặc bồi thường thoả đáng.

Lần này, tôi không muốn đàm thoại với một người Ấn Độ, không phải vì kỳ thị, mà thật là khó dàn xếp nếu hai bên không hiểu nhau, cho nên phải tìm một số điện thoại khác. May mắn cho tôi, khi google “Dell support telephone number”, tôi tìm ra được một số điện thoại khác với số đã gọi. Lần này, khi nhân viên hổ trợ khách hàng lên tiếng “hello” ở đầu giây bên kia, tôi thở phào nhẹ nhõm, vì đó là giọng nói của một nữ nhân viên có giọng phát âm của những người gốc Mỹ miền Trung Tây Hoa Kỳ. Sau 15 phút điện đàm, cô yêu cầu tôi tải về một phiên bản mới của phần mềm BIOS dành riêng cho máy XPS-M1330. Sau khi gác máy, tôi lập tức google thế giới ảo, và được biết phiên bản mới này không có gì đặc biệt hơn, ngoại trừ việc tăng tốc độ của máy quạt giảm nhiệt cho máy được mát hơn. Cũng theo kinh nghiệm của những người đi trước, việc tăng tốc độ cho quạt giảm nhiệt không hề làm giảm thiểu được sức nóng của bộ phận hổ trợ hiển thị, và máy sẽ tiếp tục bị tắt khi quá nóng.

Mặc dù thế, tôi vẫn tải phiên bản BIOS mới về. Không những thế, tải luôn phiên bản mới nhất dành cho NVidia 8400 SM. Sau khi cài đặt hai phiên bản mới, máy chạy được khoảng hơn nửa tiếng và tự động tắt vì quá nóng. Sau lần này, thì phiên bản hổ trợ cho NVidia bị khoá vĩnh viến, máy chỉ có thể hiển thị VGA qua màn hình TV.

Vài ngày sau, tôi gọi cho Dell thêm một lần nữa. Vẫn gặp được một người kỹ thuật có giọng nói miền Trung Tây Hoa Kỳ. Sau hơn 15 phút điện đàm, cô đồng ý với tôi rằng, bộ phận hổ trợ cho việc hiển thị, tức là NVidia 8400 SM đã bị hư. Trong trường hợp này, cách mau nhất (và rẻ nhất) là thay thế motherboard, và cô sẽ gửi tốc hành đêm (overnight) cho tôi một motherboard mới.

Buổi chiều ngày hôm nay, tôi hoan hỉ ngồi lướt mạng với chiếc laptop đã được hoàn chỉnh. Lại chợt nhớ về Việt Nam. Nhớ những chuyện lặt vặt có liên quan đến việc bảo hành trên quê hương mình. Hơn bao giờ hết, Việt Nam cần có thêm những luật bảo vệ người tiêu thụ nghiêm ngặt hơn, vì đây chính là một gói “kích cầu” dài hạn cho một quốc gia đang trên đường phát triển. Việt Nam cần những đạo luật mới như đạo luật Lemon-Laws của liên bang Hoa Kỳ. Người tiêu thụ có quyền trả lại bất cứ một món hàng đã mua nào trong thời hạn 15, 30 ngày. Các công ty nội ngoại cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh lời hứa bảo hành với khách hàng. Có như thế, hàng nội địa mới có thể cạnh tranh với những hàng hoá nhập cảnh từ các nước tiền tiến.

Tuesday, December 22, 2009

Phi-Lộ

Phi-Lộ

Tôi muốn viết quyển sách này từ lâu, nhưng vẫn không thể viết cho đến ngày hôm nay. Có hai lý do để không thể viết: Thứ nhất là vấn đề cơm áo. Khó có thể viết khi phải cặm cụi ở sở làm từ 8 đến 10 tiếng đồng hồ, cộng thêm 2 tiếng lái xe mỗi ngày.Thứ hai là vấn đề tế nhị. Phải mất bao nhiêu năm để có thể hàn gắn những vết thương chiến tranh sau hơn hai mươi năm nội chiến giữa hai miền Nam Bắc? Đã 35 năm đã qua rồi kể từ ngày miền Nam thất thủ, nhưng hận thù sao vẫn còn rất sắt máu trên các diễn đàn chính trị. Hãy vào thử các diễn đàn như X-Café.com, để thấy vẫn còn những lời lẽ nặng đầy thù hận, những lời chửi bới phủ phàng không cần biện chứng giữa những người Việt của hai ý thức hệ…

Thật phi lý đến thế sao? Thật ghê gớm đến thế sao? Tại sao chỉ một cuốn sách nhỏ bé của Karl Marx và một mớ chủ thuyết vụn vặt của Truman lại có thể làm cho riêng một quê hương tôi, anh em giết nhau hơn 20 năm, để rồi 35 năm tiếp theo, mạt sát lẫn nhau bằng những lời lẽ không một chút tình người? Gần 5 triệu người đã chết trong 20 năm chiến tranh, và đó chỉ mới là trên quê hương tôi. Cuốn sách nhỏ bé của Karl Marx đó đã là động lực cho bao nhiêu chục triệu hồn oan vô tội ở những quốc gia khác như Trung Hoa, Liên Sô, Đại Hàn, Miến Điện, cộng thêm các quốc gia ở Đông Ấu và Nam Mỹ?

Không một quyển sách nào, một ý thức hệ nào, một chủ thuyết nào lại có thể có được những quyền lực vô cùng ghê gớm có thể giết hàng chục, hàng trăm triệu người trên hàng mấy chục các quốc gia đó. Chỉ có quyền lợi của quốc gia, quyền lợi của một tập thể bạo quyền đứng sau lưng những chủ thuyết, ý thức hệ mới có được cái quyền lực ghê gớm đó. Nói một cách giản dị hơn, những cường quốc đã liên kết với nhau, lợi dụng sách của Karl Marx và chủ thuyết Truman để thúc dục những cuộc chiến tranh vô cùng đẫm máu, với mục đích bành trướng bá quyền và bảo vệ quyền lợi quốc gia của họ.

35 năm sau chiến tranh, ngày nay chúng ta đã thấy tận mắt, nghe tận tai: Còn đâu nữa một thiên đường quốc tế cộng sản? Còn đâu nữa một thế giới đại đồng? Còn đâu nữa chủ thuyết Truman cho một thế giới tự do của các nước đồng minh? Chỉ vài năm sau khi chấm dứt chiến tranh, Trung Quốc luà quân sang biên giới để “dạy cho Việt Nam một bài học.” 35 năm sau chiến tranh, Trung quốc bình thản và lạnh lùng xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, bá chủ biển Đông. 35 năm sau chiến tranh, chúng ta đã thấy tầu chiến Hoa Kỳ được mời gọi vào cập bến Đà Nẵng, Sài gòn. 35 năm sau chiến tranh, chúng ta đã thấy Hoa Kỳ và các nước lệ thuộc đem quân sang Iraq tận chiếm mỏ dầu, xử tử Sadam Hussein một thời đã là đồng minh của khối Tự Do. 35 năm sau chiến tranh, Nga xô đem quân sang tấn chiếm và tàn phá các nước lân cận, một thời đã từng nằm trong Liên Bang Sô Viết. 35 năm sau chiến tranh, hàng ngàn các công ty Hoa kỳ đã có văn phòng và hãng xưởng trên các thành phố lớn của Trung Quốc. 35 năm sau chiến tranh, hàng hóa "Made in China" tràn ngập các siêu thị lớn nhỏ tại Hoa Kỳ.

35 năm sau chiến tranh, chúng ta đã thấy được những gì? Tại sao vẫn chưa đủ thức tỉnh, mà vẫn còn tiếp tục mạt sát lẫn nhau bằng những lời lẽ đầy thù hận không chút tình người?

<Next>

Hiệp Sĩ Già

Hiệp Sĩ Già chỉ là một danh xưng cho oai, chứ thật sự ra, một người đã già thì làm sao còn có thể là một hiệp sĩ …múa kiếm ngang trời. Nhưng cũng phải tìm một cái tiêu đề nho nhỏ cho cái blog này. Với hàng triệu triệu người đã lập blogs rồi, thì tìm một cái tiêu đề cho cái “tôi” thật là khó. Thôi thì, già rồi không múa gươm được, thì mình múa bút. Hiệp sĩ đâu nhất thiết phải múa gươm. Chưa hẳn một đường gươm tuyệt chiêu đã lợi hại bằng một dấu chấm phảy của ngòi bút, nhất là khi ngòi bút mực đã hóa thân trở thành một ngòi bút điện tử có khả năng truyền thông không những cả hoàn cầu, mà còn có thể đi cả ra ngoại tầng khí quyển, tới những hành tinh chưa được khám phá.

Cho nên, hiệp sĩ già không phải là một người già múa gươm, mà chỉ là một anh già múa bút hoang tưởng.