Wednesday, December 23, 2009

Chiến Sĩ Vô Danh

Chiến Sĩ Vô Danh

Xin được mở chương đầu tiên bằng cách cúi đầu tưởng niệm các chiến sĩ vô danh. Khi nói đến chiến sĩ vô danh, tôi muốn nói đến chiến sĩ vô danh đúng nghĩa. Đó là những người đã chiến đấu và nằm xuống âm thầm không tên tuổi. Đó là những người lính đã nằm xuống không phân biệt Bắc Nam, không phân biệt triều đại cũng như ý thức hệ.

Chiến sĩ vô danh chính là những người đã chiến đấu từ những thời Lê Lý Trần cho đến ngày hôm nay. Chiến sĩ vô danh chính là những cô gái đã gục chết trên ngã ba Đồng Lộc dưới trận mưa bom của những pháo đài bay B52. Chiến sĩ vô danh chính là những người lính Nhảy Dù, TQLC đã nằm xuống ở Khe Sanh, Đồng Xoài, Bình Giả. Chiến sĩ vô danh chính là những người lính miền Bắc không phân biệt quân chủng, đã nằm xuống trong suốt cuộc nội chiến tương tàn 20 năm. Chiến sĩ vô danh cũng chính là những người lính miền Nam Cộng Hoà không phân biệt quân binh chủng, đã nằm xuống trong tất cả những trận chiến của 20 năm máu lửa hận thù. Tất cả các anh, các chị, đều là những anh hùng vô danh mà hương hồn bay trong gió trên tất cả các buổi lễ thượng kỳ của Việt Nam không phân biệt bất cứ một chính quyền nào.

Trước tượng đài các chiến sĩ vô danh, ai trong chúng ta chỉ cúi đầu tưởng niệm cho những binh sĩ đã nằm xuống trong những trận đại phá quân Thanh, mà không cúi đầu cho những binh sĩ của Minh Mạng, Tự Đức đã nằm xuống trong những trận chiến không tương sức với đoàn quân viễn chinh Pháp? Ai là người dám bước lên tượng đài chiến sĩ vô danh với ý tưởng rằng, cái đài chiến sĩ vô danh chỉ dành riêng cho những binh sĩ của chúa Nguyễn, hoặc chỉ dành riêng cho các chiến sĩ vô danh của vua Quang Trung?

Và cũng trên những tượng đài chiến sĩ vô danh của ngày hôm nay, không phân biệt ở trong nước hay ở Nam Cali, ai là người có thể bước lên đài tưởng niệm với ý tưởng Nam Bắc hai miền? Không! Dù sanh Nam tử Bắc, dù sanh Bắc tử Nam, tất cả những người lính chiến của hai miền, khi gục ngã trên các chiến trường, đều là những chiến sĩ vô danh.

Tôi nhớ một nhà lãnh đạo cao cấp của Hà nội, hình như thủ tướng Phan văn Khải thì phải, khi qua Nam Cali đối chất với những người chống đối, đã thốt lên câu này, “Sao quý vị thù dai thế?” Tôi đồng ý với câu nói đó. Quý vị chống đối kia quả nhiên là thù thật dai.

Nhưng chính các bậc lãnh đạo của Hà nội cũng thù dai không kém. Khi câu nói trên được thốt ra tại Nam Cali, thì ngay tại trên quê hương tôi, có hàng ngàn thương phế binh của chế độ miền Nam Cộng Hoà vẫn lê những chuỗi ngày khổ nạn trên khắp các nẻo đường phố quê hương. Có người cụt cả chân lẫn tay nằm lê lết ở những khu chợ búa bùn lấy hôi hám để xin những đồng tiền bố thí sống lây lất trong những chuỗi ngày tàn cuối đời.

Lúc nghe câu nói đó, tôi đã trộm nghĩ rằng, nếu không thù dai, tại sao chính quyền Hà nội không đưa ra một đạo luật cấp cho những thương phế binh của miền Nam Cộng Hoà đó một số tiền nhỏ nhoi hàng tháng? Chẳng có đáng là bao nhiêu, bởi vì chẳng còn bao nhiêu thương phế binh còn sống sót. Vào năm đó, nhiều lắm là còn khoảng 100 ngàn thương phế binh còn sống trên cõi đời. Nếu một người một tháng được trợ cấp 200 ngàn, thì mỗi năm được 2,4 triệu. Tổng cộng chỉ tốn ngân quỹ quốc gia là 2,4 tỷ một năm, tức là vào khoảng 200 ngàn đô la vào thời điểm đó, một con số thật vô cùng khiêm nhường so với mấy tỷ đô-la kiều hối hàng năm.

Thử tưởng tượng mà xem, bỗng nhiên chính quyền Hà Nội đưa ra một đạo luật nho nhỏ cấp cho những thương phế binh của miền Nam Cộng Hòa một số tiền nhỏ nhoi là 200 ngàn đồng một tháng thôi, thì cả thế giới này sẽ nhìn vào đó ngưỡng mộ và khâm phục. Đạo luật đầy ắp tình dân tộc nho nhỏ này sẽ đứng trên tất cả những đỉnh cao nhìn ngạo nghễ xuống tất cả những cố gắng thảm thương của những khẩu hiệu nghe rất kêu như “hoà hợp hoà giải”, “Núm ruột ngàn dặm”, v.v… Nếu đã có một đạo luật như thế ra đời, tôi nghĩ rằng tổng số tiền trợ cấp hàng năm đó thua xa những số tiền mà Hà Nội đã dành cho ngân quỹ của các chiến dịch kiều vận. Ngược lại, tổng lượng kiều hối sẽ tăng lên không kể xiết, và Hà nội sẽ được bao nhiêu là tiếng thơm, không những trong thế kỷ hiện tại, mà còn đến mãi muôn đời sau, lưu danh thiên cổ là một chính quyền có tình nhân đạo, tình dân tộc.

Nhưng 35 năm đã qua rồi. Ngày hôm nay đã quá trễ cho một đạo luật nho nhỏ đầy tình tự dân tộc như vậy. Các thương phế binh của miền Nam Cộng Hoà ngày xưa, nay hầu hết đã thiên thu vĩnh biệt cõi hồng trần. Số còn lại chẳng là bao nhiêu. Mặc dù không gục chết trên các trận mạc, các anh đã, sẽ, và luôn luôn là những anh hùng vô danh của cả dân tộc Việt Nam.

35 năm đã qua rồi. Ngày hôm nay, khi đọc chương “Chiến Sĩ Vô Danh” này, chắc hẳn sẽ còn có một số không ít người vẫn không đồng ý với tôi. Nhưng tôi có thể cả quyết rằng, 20 năm sau, hoặc 50 năm sau, trên tất cả những tượng đài chiến sĩ vô danh của quê hương tôi, sẽ không còn ai phân biệt với tất cả các anh...

Bởi vì, dẫu sanh Nam tử Bắc, dẫu sanh Bắc tử Nam, tất cả các anh, những người đã nằm xuống trên khắp các nẻo đường Việt Nam, đều là những ANH HÙNG vô danh của tổ quốc Việt Nam.

No comments:

Post a Comment

Note: Only a member of this blog may post a comment.